Nghiên cứu »Nghiên cứu tổng hợp »Năng lượng vũ trụ và năng lượng con người

 Nhân Điện (‘human electricity’) trong tiếng Việt là từ ngữ nôm na thông dụng để chỉ năng lượng của con người và vũ trụ (human & universal energy) hay nói cách khác, là năng lượng mà con người thu hút được trong vũ trụ. Từ ngữ ‘điện’ (electricity) thường dễ làm cho người ta liên tưởng đến ‘điện’ phát ra từ các máy phát điện dùng để chạy các dụng cụ điện trong nhà hay trong kỹ nghệ. Sự liên tưởng đó khiến cho người ta dễ liên kết với những đặc tính của điện như: ‘câu điện’, ‘truyền điện’, ‘điện giật’ ‘mở điện, ‘tắt điện’, ‘làm cháy bóng đèn’, chạy máy, ‘mát…điện’,v.v…

Trong khi chưa có từ ngữ nào khác thích hợp hoặc súc tích hơn, từ ngữ ‘Nhân Điện’ được tạm dùng để diễn tả năng lượng của vũ trụ mà con người thu hút được. Thật ra từ ngữ ‘điện’ (electricity) được  dùng không phải hoàn toàn lệch lạc. Năng lượng (energy) mà con người thu hút được luân lưu trong cơ thể mình và có thể truyền cho người khác để giúp chữa bệnh mang khá nhiều tính chất của một dòng điện (electrical current), sự khác biệt chỉ ở chỗ mức rung động và cường độ của Nhân Điện nhẹ ‘điện’ hơn từ máy phát điện mà thôi. Cơ thể và đặc biệt là bộ óc con người được cấu tạo bằng các hợp chất dùng để cấu tạo một cục pin (battery) và không có gì lạ khi ‘cục pin người’ này cũng phát ra điện.

Nếu dòng điện (electrical current) không thể thấy được nhưng có thể cảm giác được  thì năng lượng của con người hoàn toàn vô hình, vô ảnh. Gần đây, người ta đã có thể dùng máy móc mới phát minh để đo năng lượng con người cũng như xác định được cơ thể con người luôn luôn có sự luân lưu của năng lượng. Ngoài ra chẳng những con người có thể có cảm giác dòng Nhân Điện luân lưu mà còn có thể thấy được  bằng mắt thường dưới một số điều kiện. Thử làm thí nghiệm dưới đây để ‘nhìn thấy’ hoặc có ‘cảm giác’ về sự hiện hữu của năng lượng trong chính cơ thể mình.

Vào lúc bầu trời trong, hướng về nền trời xanh ngược chiều với hướng mặt trời. Nếu ở trong nhà thì chọn chỗ tường có màu đen hoặc xám, đèn đừng quá sáng, đứng xoay mặt vào tường và đèn nằm ở vị trí sau lưng. Để cho tâm hồn thật tĩnh lặng, đưa thẳng hai cánh tay về trước mặt cao hơn đầu, từ từ cho 2 ngón trỏ lại sát nhau rồi kéo rời ra trong khoảng cách 4 hay 5 phân, sau đó lại đưa 2 ngón trỏ sát lại vào nhau thật chậm và lại tách rời 2 ngón tay ra. Nếu ta nhìn vào phạm trường xung quanh 2 ngón tay- đừng nhìn quá chăm chú vào 2 ngón tay mà nên để cho mắt thư giãn, tầm mắt như hướng về cuối chân trời hay ở điểm thật xa - ta sẽ thấy một vùng màu trắng đục như sương, như khói nằm giữa hai ngón tay và bao phủ chính 2 ngón tay đó. Lớp màng trắng đục đó cũng xuất hiện khi chập hai bàn tay lại vào nhau trong tư thế vừa nói - chập sát vào nhau rồi kéo từ từ ra và đưa lại gần nhau nữa. Ta cũng có thể có cảm giác 2 ngón tay tê nhè nhẹ hoặc cảm giác có những tia thật nhỏ từ 2 bàn tay hay ngón tay trỏ bắn vào nhau hoặc nghe cảm giác giữa hai lòng bàn tay ấm hơn. Có khi ta cũng cảm giác có một lực đẩy hay hút hai bàn tay lại với nhau. Màng trắng đục thấy được  bằng mắt chính là tầng năng lượng bao phủ cơ thể con người. Hơi ấm, các tia nhỏ bắn ra là cảm giác ghi nhận được khi năng lượng con người luân lưu trong cơ thể và theo lòng bàn tay thoát ra ngoài. Có người gọi đó là tầng etheric.

Tầng năng lượng này cũng có thể thấy được  ở thú vật, cây cối và cả các loại đá phát năng lượng như amethytic. Muốn thấy hay muốn có những cảm giác về luồng năng lượng này đòi hỏi hai điều kiện. Thứ nhất là tâm hồn, tinh thần phải ở trong trạng thái thật tĩnh lặng (transquility), thật bình ổn, thư thái và thứ nhì là đừng quá chú mục vào hai ngón tay mà để cho mắt thật thư giãn, nếu cần đừng mở lớn, đưa thị tuyến về một điểm thật xa đàng sau hai ngón tay (loose your focus at a poin far behind). Người đã tập luyện Nhân Điện sẽ rất dễ thấy tầng năng lượng màu trắng đục này cũng như có cảm giác ấm và các tia năng lượng bắn ra từ ngón tay hay lòng bàn tay nhiều hơn.

Một cách khác nữa là đưa thẳng cánh tay trái về phía trước mặt, lòng bàn tay ngửa lên và một người khác đã tập luyện Nhân Điện đặtúp lòng bàn tay trái của họ xuống lòng bàn tay của ta ở khoảng cách từ 2cm đến 4cm, ta sẽ không có cảm giác gì cho đến khi người tập luyện Nhân Điện cố ý bức xạ năng lượng ra lòng bàn tay họ. Chừng đó ta sẽ nghe rõ cảm giác ấm giữa hai lòng bàn tay và các tia năng lượng bắn ra từ lòng bàn tay người tập luyện Nhân Điện vào lòng bàn tay ta, có khi các tia năng lượng này chạy suốt vào cánh tay hoặc đi xa hơn nữa. Trong cảm xạ học, người ta sử dụng quả lắc như đã đề cập để biết được  sự luân lưu của năng lượng bằng ‘cảm xạ’ nhưng thể hiện qua đường kính của vòng quay quả lắc.

Một thí nghiệm khác giản dị hơn của  Mersmer là dùng một dụng cụ hết sức đơn giản để ‘đo’ Nhân Điện. Dụng cụ này cần 3 vật: một cọng rơm hay cỏ khô dài khoảng một gang tay (20cm) một cây kim gút và một nút chai rượu bằng cây . Cắm cây kim gút xuyên qua giữa cọng rơm hay cỏ khô và sau đó cắm đầu kim còn lại trên nút chai cho kim đứng thẳng và cọng rơm nằm ở vị trí nằm ngang song song với mặt bàn. Có thể xoay kim vài vòng để cọng rơm dễ di động hơn khi gặp lực hút hay đẩy phát từ bàn tay.

Xòe bàn tay ra đặt bên cạnh cọng rơm khô, năng lượng chúng ta hay Nhân Điện sẽ làm cọng rơm di chuyển. Cọng rơm bị đẩy hay hút, mạnh hay yếu tùy thuộc vào năng lượng của chính cơ thể người làm thí nghiệm. Nếu đổi bàn tay trái sang bàn tay mặt có thể thấy hiện tượng hút, đẩy khác nhau.

Theo giả thuyết của các khoa học gia - khởi thủy, nhiều tỷ năm về trước - vũ trụ (universe) bắt đầu chỉ với khối khí hidrogen luân chuyển rất chậm. Tốc độ di chuyển của khí hydrogen này càng ngày càng nhanh hơn và bắt đầu phát sinh khí helium rồi đến cacrbonic. Sự kết hợp và di chuyển của các khí này lâu dần tạo thành nhiều khối hơi tròn di động theo một chiều hướng nhất định. Sau nhiều tỷ năm, do sự ma sát và nhiệt độ tăng giảm, lớp khí bên ngoài bị biến đổi thành một hợp chất cứng dần. Quả địa cầu chỉ là một trong những khối hành tinh trong thái dương hệ của vũ trụ xoay xung quanh định tinh mặt trời. Do sự vận chuyển, tốc độ và nhiệt lượng phát ra, quả địa cầu dần dần bị bao phủ bằng một vầng khí và trong một điều kiện đặc biệt nào đó, lớp khí này bị biến thành chất lỏng rơi xuống mặt quả địa cầu nhăn nheo chưa có một sinh vật nào.

‘Sự sống’ đầu tiên xuất hiện trên quả địa cầu là một loại rêu đơn bào sinh trưởng trong lớp chất lỏng của mặt quả địa cầu. Các loại rêu này tăng trưởng dần với thời gian tiết ra một loại khí gọi là oxygen. Khíoxygen càng ngày càng nhiều và nhiều loại rong rêu dưới lớp chất lỏng với cấu tạo phức tạp hơn bắt đầu xuất hiện. Dần dần có những loại thảo mộc sống được  trên mặt địa cầu mà không cần phải ở trong chất lỏng đó. Thảo mộc lan dần, tạo thêm nhiều oxygen và động vật đầu tiên xuất hiện là một loại động vật sống trong lớp chất lỏng sử dụng rất ít khí oxygen và thở bằng da thay vì bằng phổi và mang như các loại cá hiện nay. Với sự gia tăng dần dần tỷ lệ khí oxygen trong phần không gian bao trùm quả địa cầu, một loại động vật khác có chân xuất hiện với khả năng sống được cả trong lẫn ngoài lớp chất lỏng mà ngày nay ta gọi là ‘nước’. Các khoa học gia gọi thời đại này là thời đại ‘dinosaur’ với những con vật to lớn có chân, có đuôi, vùng vẫy dưới nước lẫn chạy nhảy trên cạn.

Các loại động vật khác cũng bắt đầu sinh trưởng và tiến hóa. Con người là một động vật xuất hiện sau nhiều loại động vật khác và tiếp tục tiến hóa.

Đến nay thì sinh vật con người tự hào là với khối óc linh mẫn đã có khả năng khống chế các loại sinh vật khác. Con người không tự bay được  như chim nhưng có thể chế tạo ra phi cơ và bay nhanh hơn chim. Con người không lội dưới nước bằng cá nhưng có thể chế thuyền bè, tàu lặn khổng lồ và có thể lội nhanh, lặn lâu hơn cá. Con người cũng chế tạo ra các dụng cụ để có thể nghe xa hơn, thấy xa hơn bất kỳ một sinh vật nào trên trái đất. Và con người cũng có thể chế ra các loại khí cụ có sức tàn hủy đồng loại mà không một sinh vật khác sánh bằng.

Cho đến nay, trong vũ trụ, ngoài các hành tinh vận chuyển trong không trung - các khối năng lượng đã kết tinh thành vật thể theo tốc độ vận chuyển - vẫn còn có sự luân lưu không ngừng của các luồng năng lượng, không một sinh vật nào có thể hiện hữu và trường tồn mà không có cùng đặc tính với môi trường bên ngoài: kết cấu bằng năng lượng và luôn có sự luân chuyển của năng lượng. Như mọi sinh vật khác trong vũ trụ, trong cơ thể con người cũng có những luông năng lượng luân lưu không ngừng và cơ thể con người cũng cần có sự di chuyển năng lượng để có thể ‘sống’ được trong thiên nhiên, vũ trụ.

Ngoài các chứng bệnh do vi trùng, vi khuẩn tác hại, nhiều chứng bệnh khác do sự tắc nghẽn hay lưu thông không điều hòa của luồng năng lượng trong cơ thể hoặc do sự ‘thất thoát’ năng lượng không có cơ hội bù đắp mà ra. Nguồn năng lượng lưu thông trong cơ thể dồi dào, còn có tác dụng của một hệ thống ‘miễn nhiễm’ (immunitation system) ngăn ngừa hay làm giảm bớt sự tác hại của vi trùng và các biến chứng của nó trên cơ thể con người.

 

I. Nhu cầu năng lượng của con người

Không phải chỉ mới gần đây con người mới khám phá ra mọi cơ thể vật chất đều có năng lượng và rất cần năng lượng (energy) để sống. Năng lượng mà cơ thể con người cần để đáp ứng nhu cầu cho cơ thể có đầy rẫy trong vũ trụ. Từ trên 6000 năm trước, kinh ‘Verda’ đã nhắc đến tia ‘prana’ trong vũ trụ và cho rằng cơ thể con người rất cần tia prana này và xem nó như thành phần cơ bản, nguồn gốc của sự sống. Các thiền sư Yoga tĩnh tọa và hít thở theo phương thức riêng để thu hút năng lượng vũ trụ (thu nhận ’ngoại khí’) nhằm quân bình năng lượng trong cơ thể, giữ gìn sức khỏe và chữa bệnh.

5000 năm trước, người Trung hoa gọi năng lượng vũ trụ này là ‘Khí’ (Qi) (một loại ‘tiên thiên khí’) trong đó hàm chứa hai lực ‘âm, dương’ vừa đối nghịch, vừa tương tác lẫn nhau và sự bất quân bình giữa hai khí âm dương này trong cơ thể làm cho cơ thể suy yếu và sinh bệnh tật. Thuyết thần bí Kablalah của Do thái tin rằng Năng lượng vũ trụ là ánh sáng của tinh tú trong vũ trụ bao la và Kinh Cựu ước cũng có đề cập đến vùng ánh sáng bao bọc quanh cơ thể con người. Trường phái Phythagore cảm nhận Năng lượng vũ trụ dưới dạng vật thể sáng và tin rằng loại thể sáng này tạo ra các tác động khác nhau với cơ thể kể cả việc chữa trị bệnh hoạn.

Vào đầu thế kỷ 12, hai nhà bác học Boirac  và Liebault phát giác ra cơ thể con người có một năng lượng có thể gây tác động với các cơ thể khác từ xa và làm cho cơ thể khác lành bệnh hay bị ốm đau. Ở đầu thế kỷ 19, nhà toán học Helmont lại hình dung năng lượng vũ trụ như một dòng chảy ‘chất lỏng vũ trụ’ lan tỏa một cách tự nhiên, là một thứ ‘sinh linh thuần khiết’ có thể thâm nhập vào mọi cơ thể và đương nhiên cơ thể sinh vật cũng có thể ‘thu nạp’ chất lỏng vũ trụ này.

Từ đầu thế kỷ 20, nhiều khám phá mới về năng lượng con người cũng như nhu cầu của cơ thể con người đối với năng lượng vũ trụ. Giữa thập niên 1900, hai bác sỹ George de la Warr và Ruth Drown chế tạo một dụng cụ phát điện bức xạ từ các mô sống, khởi đầu ngành nghiên cứu về bức xạ học nhằm phát triển hệ thống dò tìm, chẩn đoán và chữa trị từ xa bằng cách sử dụng năng lượng sinh học của con người.

Năm 1911, Bác sĩ Willam Kirlian chế tạo máy ảnh với kính lọc màu cobal có thể chụp được các tầng năng lượng bao quanh cơ thể conngười. Khám phá của Kirlian cho thấy lớp ‘hào quang’ này khác nhau tùy theo tuổi tác, giới tính, sức khỏe và tâm tình. Bệnh tật cũng biểu lộ qua các tầng hào quang này. Viện nghiên cứu nguyên tử lực Shanghai của Viện hàn lâm Trung Hoa và gần đây, bác sĩ Zheng Rongliang của Đại học Tổng hợp Lanzhou đã dùng máy dò sinh học đo được trường sinh lực của con người và cho thấy các vị thầy dạy Khí công phát ra một trường sinh lực dưới dạng sóng có tần số rất thấp và năng lượng ‘khí’ phát ra dưới dạng một dòng chảy vi hạt với đường kính khoảng 60micron  và vận tốc từ 2,4m đến 7m một giây.

Gần đây, Viện Nghiên cứu thông tin sinh học A.S. Popov của Nga đo được tần số rung động của năng lượng phát ra từ các sinh vật thay đổi từ 300 đến 2000namonet và đặt tên cho năng lượng này là ‘bioplasma’. Riêng những người có khả năng truyền biolasma cho người khác tích tụ số lượng bioplasma lớn hơn người thường rất nhiều.

Năm 1988, Bác sĩ Valerie Hunt cùng các cộng sự viên đã ghi nhận được màu sắc và tần số rung động tại các ‘Luân xa’ (giao điểm sinh lực) của con người (xem chương Luân xa) như sau:

 

Luân xa

 

Màu sắc

 

Tần số rung động

·        Luân xa 1:

Đỏ

1.000- 1.200 Hz

·        Luân xa 2:

Cam

950- 1.050 Hz

·        Luân xa 3:

Vàng

500- 700 Hz

·        Luân xa 4:

Lục

250- 475 Hz

·        Luân xa 5 :

Lam (xanh)

250- 275 Hz

·        Luân xa 6:

Tím

1.000- 2.200 Hz

·        Luân xa 7:

Trắng

1.100- 2.000 Hz

Một số nhà nghiên cứu về ngành y học cổ truyền (alternative or complementary medicines) trong hậu bán thế kỷ 20, nhất là trong thập niên 90 đã đóng góp khá nhiều công sức trong việc tìm hiểu, thực nghiệm và chữa (heal) lành khá nhiều chứng bệnh bằng năng lượng vũ trụ và con người (Nhân Điện) mà Tây Y không giải quyết được. Trong ‘trường sinh học’ (bioenergy field), người ta nhắc đến loại trường nănglượng biopasma hay trường năng lượng điện từ (magnetic ernergy field) dùng trong việc chữa bệnh là thứ ‘medecine energy’ một loại ‘thuốc năng lượng’. Các dụng cụ khoa học tối tân gần đây có thể đo được nhu cầu năng lượng vũ trụ của con người nhưng chưa phổ quát đến mọi người để ai ai cũng chấp nhận một cách dễ dàng. Trước khi các loại máy đo tối tân này được sử dụng rộng rãi, trước khi ai cũng có điều kiện thấy được tận mắt các kết quả đo lường bằng dụng cụ khoa học, ta có thể trắc nghiệm nhu cầu và sự hiện hữu của năng lượng con người bằng cách quan sát. Những học viên Nhân Điện hoặc người từng được  chữa trị bằng Nhân Điện thấy rõ hơn ai hết nhu cầu năng lượng của cơ thể và kết quả của việc khai thông các bế tắc của luồng năng lượng khi chữa các chứng mất ngủ, vết sưng, bầm, kể cả cầm máu, phỏng, v.v…

Một số nhà nghiên cứu người Mỹ như Babarra Ann Brennaon, James Redfield, Caroline Myss,v.v… gần đây đã khẳng định là nhờ tập luyện một giác quan linh mẫn, họ có thể nhìn thấy được sự di chuyển của tầng năng lượng bao quanh cơ thể con người cũng như nhìn thấy được qua tầng năng lượng đó bộ phận nào trên cơ thể bị bệnh. James Redfield trong quyển ‘The Celestine Prophecy’ quyển sách bán chạy kỷ lục trong cuối thế kỷ 20, cho rằng với thiền tịnh (meditation), người ta có thể thấy được một tầng năng lượng màu trắng đục bao phủ cây cối và nếu dùng năng lượng con người truyền vào hoa màu, hoa màu sẽ tươi tốt và cho năng suất cao hơn.

James Refield còn cho rằng khi tập trung tinh thần để thu hút năng lượng vũ trụ vào cơ thể, người ta có thể quan sát tầng năng lượng bao quanh cơ thể con người và còn thấy được tầng năng lượng này di chuyển theo tình cảm chính người đó. Khi quan sát hai người đối thoại hay tranh chấp nhau, James Refield còn cho biết có thể thấy được năng lượng của người này chạy sang người khác. Người mất năng lượng có thể do bị người kia ‘cướp’ (robe) mất hoặc do tự nguyện cho người kia. Việc bị cướp năng lượng hay tự nguyện hiến tặng năng lượng cho người khác phát sinh từ vô thức nhưng người bị mất năng lượng cảm thấy mệt mỏi, ủ rũ sau khi tiếp xúc và người ‘lấy’ thêm được  năng lượng thì cảm thấy thỏa mãn và thoải mái hơn.

Trong quyển Anotomy of Spirits - the Seven Stages of Power and Healing (1996), tiến sĩ Caroline Myss đã nhờ vào giác quan linh mẫn của mình qua sự luyện tập và thiền tịnh đã có thể nhìn thấy được màu sắc của tầng năng lượng bao phủ cơ thể con người cũng như màu sắc của tầng năng lượng tại các trung tâm giao điểm sinh lực (Chakras) và đoán được  nguyên nhân gây ra bệnh. Caroline Myss cho rằng thay đổi môi trường hay thói quen từng làm mất năng lực hay sức lực của người bệnh trong nhiều ngày tháng đồng thời tiếp trợ năng lực cho vùng giao điểm sinh lực bị thiếu có thể chữa lành được bệnh.

Tiến sĩ Babarra Ann Brennaon, một nhà vật lý học người Mỹ  từng phục vụ trong cơ quan Ngiên cứu Không gian của Hoa Kỳ (NASA) nhờ thiên bẩm và những tao ngộ đặc biệt đã nghiên cứu sâu xa về năng lượng con người cũng như thực hành nhiều chứng bệnh bất trị theo Tây y.

Trong quyển sách nổi tiếng Hands of Light (1989), Babarra Ann Brennaon xác nhận bà có thể nhìn thấy tầng năng lượng nhiều màu sắc bao phủ cơ thể con người và các màu sắc này thay đổi tùy theo cá nhân, tùy theo cảm xúc và bệnh hoạn của cá nhân đó. Dựa vào màu sắc của tầng năng lượng này, Babarra Ann Brennaon đã tìm cách định được  nguyên nhân của căn bệnh và chữa trị bằng cách truyền năng lượng vào người bệnh (thao tác lên trường năng lượng) để giúp khai thông các tắc nghẽn khiến năng lượng lưu thông điều hòa. Bà Brennan mở một trung tâm nghiên cứu và chữa trị bằng năng lượng cũng đã có nhiều học viênMỹ và Âu Châu theo học các khóa huấn luyện để chữa bệnh bằng năng lượng phát ra từ bàn tay.

Tuy nhiên khi khám phá ra phương cách đào luyện giác quan linh mẫn nhìn được  tầng năng lượng bao phủ con người,  Babarra Ann Brennaon, Caroline Myss đã không đi xa hơn để sáng chế các máy móc chứng minh sự hiện hữu của tầng năng lượng mà chỉ đem những khám phá của mình viết sách, tổ chức hội thảo hoặc định bệnh và chữa bệnh cho những ai tuyệt vọng với Tây y. Thành quả mà họ đạt được trong việc dùng năng lượng con người để chữa bệnh không thể phủ nhận hay cho rằng các kết quả đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Trong vũ trụ năng lượng vận chuyển không ngừng. Quả địa cầu, một phần tử của vũ trụ, kết tinh từ năng lượng và năng lượng vẫn tiếp tục luân lưu trong lòng và trên mặt quả địa cầu. Sinh vật, con người không thể tồn tại trên quả địa cầu, trong vũ trụ nếu không có cùng bản chất với vũ trụ tức là không có luồng năng lượng luân lưu trong cơ thể. Triết lý Đông phương gọi nguyên lý này là Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

Mặc dù có người có những khả năng thiên phú này có thể đi xa hơn những khoa học gia, những nhà vật lý, sinh học khác là sau khi khám phá ra trường năng lượng con người - thực tế chỉ là xác định một hiện tượng có sẵn- đã có thể căn cứ vào đó để chữa trị cho một số người. Họ cũng đã đào tạo một ít môn sinh nhưng không thể trong thời gian ngắn đào tạo cho nhiều người khác - những người không có những tao ngộ đặc biệt, khả năng thiên bẩm và sự kiên tâm rèn luyện như họ- một khả năng chữa bệnh gần bằng họ.

Nguyên nhân của việc chữa bệnh bằng khí, bằng năng lượng bị chìm vào quá khứ trong những thế kỷ qua vì ‘thuốc năng lượng’ (nói theo từ ngữ của Caroline Myss) quá khó tìm. Nhân Điện xuất hiện trong hơn một thập niên qua là đáp án cho vấn nạn khan hiếm ‘thuốc năng lượng’ này.

Các hành giả Nhân Điện trong suốt thập niên qua đã chữa giúp lành hàng triệu người ở hầu hết các quốc gia trên thế giới mang những chứng bệnh kéo dài trong nhiều năm tháng mà các phương cách chữa trị khác không mang đến kết quả. Hầu hết những ai học Nhân Điện đều có khả năng để chữa bệnh, đều biết cách thu hút năng lượng vũ trụ qua khai mở Luân xa và thiền tịnh để bồi bổ năng lượng cho cơ thể, chữa bệnh cho chính mình và có thể truyền sang cho người bệnh để thăng bằng năng lượng và làm cho luồng năng lượng trong cơ thể người bệnh lưu thông, điều hòa. Người bệnh hết được bệnh nhờ năng lượng được tăng cường và lưu thông điều hòa là một minh chứng rõ rệt cho nhu cầu năng lượng của con người. 

  Ưu điểm của Nhân Điện là ngoài việc chữa trị hiệu quả, có thể học được một cách dễ dàng mà không đòi hỏi người học phải có một năng khiếu đặc biệt nào ngoại trừ một tấm lòng từ ái, thương người. Ngành Nhân Điện nhờ đặc tính dễ học và thực hành hiệu quả hi vọng sẽ là một ngành y học bổ khuyết cho các phương thức chữa trị khác, giúp con người giảm bớt đau khổ và bệnh hoạn trong kiếp người.

 

Mankind – Enlightenment - Love

Tin khác
Tin mới
Phong thủy - Nhân Điện ứng dụng
Ngôn ngữ
Language: loading...
Calendar
Liên kết
Sự kiện
Thống kê
Trực tuyến: 6
Hôm nay: 180
Hôm qua: 1035
Tháng này: 20345
Tháng trước: 27254
Lượt truy cập: 1030704
Quảng Cáo
  • Facebook
Designed by: WEB60S.COM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
  • Điện thoại: 04- 6 2947292 - 097 6661313
  • E-mail: info@nangluongcuocsong.com.vn
  • Tư vấn khóa học giải đáp về Nhân Điện
  • Hỗ trợ các vấn đề trên website